Tool Xây Dựng VNTOOL XÂY DỰNG VN
Bài viết kỹ thuậtCập nhật 3/11/2026 · 6 phút đọc

LA-Slope (2): Thấm không ổn định và bài toán hạ mực nước hồ

Khi mực nước hồ hạ nhanh, nước trong thân đê chưa kịp thoát nên mái thượng lưu mất ổn định sau vài ngày chứ không phải ngay lập tức. Bài này giải thích phương trình thấm Richards, vùng không bão hòa van Genuchten, cách LA-Slope ghép thấm với ổn định, và ví dụ đê đất có hệ số an toàn giảm từ 2,15 xuống 1,13.

Các bài trong Module Địa kỹ thuật
Mục lục bài viết

Phân tích ổn định thông thường giả định một mực nước cố định. Nhưng nhiều sự cố mái dốc ở Việt Nam xảy ra khi mực nước thay đổi: mưa kéo dài làm nước ngấm vào mái, hoặc hồ chứa xả lũ làm mực nước hạ nhanh. Trong những trường hợp này, áp lực nước trong đất phụ thuộc thời gian, và thời điểm nguy hiểm nhất thường không phải lúc bắt đầu hay lúc kết thúc.

1. Phương trình thấm#

Nước chảy trong đất theo định luật Darcy: lưu lượng tỉ lệ với gradient cột nước, v = −k·∇H. Kết hợp với điều kiện bảo toàn khối lượng nước, ta có phương trình Richards cho dòng thấm hai chiều trong đất bão hòa và không bão hòa:

∂θ/∂t = ∂/∂x(k_x·∂H/∂x) + ∂/∂z(k_z·∂H/∂z)

trong đó H = z + h_p là cột nước tổng (cao độ + cột áp), θ là độ ẩm thể tích, k_x và k_z là hệ số thấm theo hai phương.

  • Ổn định (∂θ/∂t = 0): phương trình Laplace, dùng cho dòng thấm đã ổn định lâu dài.
  • Không ổn định: mực nước thay đổi, cần giải theo thời gian.

2. Vùng không bão hòa#

Phía trên đường bão hòa, áp lực nước lỗ rỗng âm (đất hút nước). Lượng nước θ và hệ số thấm k đều giảm khi lực hút tăng. LA-Slope mô tả quan hệ này theo van Genuchten:

θ(h) = θ_r + (θ_s − θ_r) / [1 + (α·|h|)ⁿ]^(1 − 1/n)

Ngoài van Genuchten có Gardner, log-tuyến tính, hoặc "chỉ bão hòa" (bỏ qua vùng không bão hòa). Tham số tham khảo theo Carsel & Parrish (1988): cát α = 14,5 m⁻¹, n = 2,68; cát pha α = 7,5, n = 1,89; sét pha α = 1,9, n = 1,31; sét α = 0,8, n = 1,09.

3. LA-Slope giải bài toán thấm thế nào#

BướcCách làm
LướiPhần tử tam giác theo lớp, có cột tại mọi điểm gãy; đánh số theo cột để ma trận dải hẹp, giải nhanh
Thời gianEuler lùi (ổn định vô điều kiện), dạng hỗn hợp θ–h để bảo toàn khối lượng, lặp Picard, bước thời gian tự điều chỉnh
BiênCột nước H(t) theo thời gian, áp lực h_p(t), lưu lượng, mưa (tự đọng nước khi vượt khả năng thấm), mặt rỉ, nguồn điểm
Biên đặc biệtBiên cột nước cao hơn mặt đất tự chuyển thành mặt rỉ (đúng trường hợp hồ hạ mực nước)
Kết quảH, h_p, véc-tơ vận tốc, lưu lượng qua từng biên, lượng nước trữ, đường bão hòa

Sau đó áp lực nước u ở đáy từng lát của bài toán ổn định được nội suy từ lời giải thấm tại thời điểm chọn. Đất dưới đường bão hòa dùng γ_sat; có tùy chọn kể đến lực hút dính trong vùng không bão hòa.

Màn hình Thấm (S7) trong LA-Slope: chế độ không ổn định 10 ngày, bảng điều kiện biên hồ, hạ lưu và mặt rỉ, thông số van Genuchten của vật liệu
Màn hình Thấm (S7) trong LA-Slope: chế độ không ổn định 10 ngày, bảng điều kiện biên hồ, hạ lưu và mặt rỉ, thông số van Genuchten của vật liệu

Kiểm chứng bộ giải thấm#

Bài toán kiểm traKết quả
Hai lớp đất nối tiếp, so định luật DarcyLưu lượng và cột nước ranh lớp sai < 0,01 %
Đập chữ nhật có mặt rỉ, so công thức CharnyLưu lượng 3,06 so với 3,00 (+2 %), lưu lượng vào = ra
Khuếch tán bão hòa, so nghiệm erfcSai < 0,003 m
Mưa ngấmBảo toàn khối lượng 100 %
Trường thủy tĩnh tính từ thấm so với khai báo mực nướcF trùng nhau, sai 0,04 %

4. Ví dụ: đê đất khi hồ hạ mực nước#

Ví dụ VD3_De_HaMucNuocHo_Tham có sẵn trong bộ cài.

Số liệuGiá trị
ĐêCao 8 m, mặt đê rộng 6 m, mái thượng lưu và hạ lưu 1:2
Thân đêCát pha đầm chặt: γ = 18,5 / γ_sat = 20 kN/m³, c′ = 5 kPa, φ′ = 30°, k = 0,05 m/ngày
NềnSét pha dày 6 m: γ = 19 / 19,5 kN/m³, c′ = 12 kPa, φ′ = 24°, k = 0,005 m/ngày
Biên hồMực nước +8 m đến ngày 1, hạ đều xuống +2 m tại ngày 3, giữ +2 m đến ngày 10
Biên hạ lưuCột nước 0; mái hạ lưu là mặt rỉ
Phân tíchMái thượng lưu, Bishop, mặt tròn tối ưu tại từng thời điểm, F yêu cầu 1,3

Kết quả "Tính F theo thời gian":

Thời điểmMực nước hồFNhận xét
0 ngày+8 m2,152Nước hồ đỡ mái thượng lưu
1 ngày+8 m2,152Chưa hạ
2 ngày+5 m1,466Đang hạ
3 ngày+2 m1,134Nhỏ nhất: hồ đã hạ hết, nước trong thân đê chưa thoát
5 ngày+2 m1,188Nước thân đê thoát dần
7 ngày+2 m1,219
10 ngày+2 m1,253Vẫn dưới 1,3
Kết quả tại t = 3 ngày: màu thể hiện cột áp h_p, mũi tên là hướng dòng thấm chảy ngược ra phía hồ, mặt trượt tới hạn ở mái thượng lưu với F = 1,134
Kết quả tại t = 3 ngày: màu thể hiện cột áp h_p, mũi tên là hướng dòng thấm chảy ngược ra phía hồ, mặt trượt tới hạn ở mái thượng lưu với F = 1,134

Vì sao F nhỏ nhất ở ngày 3#

Hai tác động ngược chiều:

  1. Nước hồ tạo áp lực lên mặt mái thượng lưu, có tác dụng giữ mái. Khi hồ hạ, lực giữ này mất ngay lập tức.
  2. Nước trong thân đê làm giảm ứng suất hữu hiệu trên mặt trượt. Với k = 0,05 m/ngày, nước thoát rất chậm, nên trong vài ngày đầu áp lực nước gần như vẫn như khi hồ đầy.

Ngay sau khi hồ hạ xong là lúc mất lực giữ mà áp lực nước chưa kịp giảm, nên F nhỏ nhất. Sau đó F tăng dần khi nước thân đê thoát ra. Một phân tích tĩnh chỉ với mực nước đầu (+8 m) hoặc cuối (+2 m, dòng thấm ổn định) không thấy thời điểm này.

5. Khi nào cần phân tích thấm#

  • Đê, đập, bờ hồ chứa có mực nước thay đổi.
  • Mái dốc chịu mưa kéo dài, đặc biệt khi lớp phủ trên đá phong hóa có hệ số thấm khác nhau nhiều.
  • Hố đào gần sông, có chênh mực nước hai phía.
  • Khi mực nước ngầm khai báo không có căn cứ quan trắc rõ ràng.

Nếu chỉ có một mực nước ngầm ổn định đã quan trắc, khai báo thủy tĩnh là đủ; phân tích thấm cho cùng kết quả (sai 0,04 % trong kiểm chứng ở trên).

Đọc thêm

Bài viết kỹ thuậtLA-Slope (1): Phương pháp cân bằng giới hạn chia lát và ví dụ chuẩn ACADSHệ số an toàn mái dốc được định nghĩa thế nào, vì sao phải chia lát, sáu phương pháp Fellenius, Bishop, Janbu, Spencer, Morgenstern-Price, Sarma khác nhau ở giả thiết nào, LA-Slope tìm mặt trượt nguy hiểm ra sao, và kết quả trên ví dụ chuẩn ACADS 1(a).Bài viết kỹ thuậtLA-Slope (3): Gia cố mái dốc (đinh, cọc chống trượt, tường MSE), mái đá và phần tử hữu hạnNăm ví dụ có số liệu cụ thể: mái đào gia cố đinh, cọc chống trượt D1200, tường đất có cốt lưới địa kỹ thuật, mái đá trượt phẳng và nêm 3D, và kiểm tra bằng phần tử hữu hạn giảm cường độ. Mỗi ví dụ chỉ ra một bài học thiết kế.Bài viết kỹ thuậtLA-Slope (4): Chọn phương pháp nào – so sánh 6 phương pháp trên cùng một mặt trượtChạy Fellenius, Bishop, Janbu, Spencer, Morgenstern-Price và Sarma trên cùng một mặt trượt cho ba trường hợp: mái khô, mái có áp lực nước lớn, mái hai lớp có mực nước ngầm. Kết quả cho thấy khi nào chênh lệch nhỏ, khi nào Fellenius thấp hơn hơn 10 %, và vì sao không nên so phương pháp trên các mặt trượt tối ưu khác nhau.Bài viết kỹ thuậtLA-Slope (5): Lớp yếu mỏng – khi mặt trượt tròn đánh giá quá cao hệ số an toànMột lớp bùn sét kẹp dày 0,6 m dưới chân mái làm hệ số an toàn giảm từ 1,59 xuống 1,13. Mặt trượt tròn chỉ thấy 1,29 vì không thể đi dọc lớp yếu. Bài này giải thích vì sao, cách khai báo mặt trượt đa giác trong LA-Slope và cách kiểm tra kết quả tối ưu.