LA-Slope (1): Phương pháp cân bằng giới hạn chia lát và ví dụ chuẩn ACADS
Hệ số an toàn mái dốc được định nghĩa thế nào, vì sao phải chia lát, sáu phương pháp Fellenius, Bishop, Janbu, Spencer, Morgenstern-Price, Sarma khác nhau ở giả thiết nào, LA-Slope tìm mặt trượt nguy hiểm ra sao, và kết quả trên ví dụ chuẩn ACADS 1(a).
Các bài trong Module Địa kỹ thuật
Mục lục bài viết
Một mái dốc mất ổn định khi một khối đất trượt xuống theo một mặt trượt. Bài toán có hai câu hỏi: khối đất trên một mặt trượt cho trước an toàn đến mức nào, và trong vô số mặt trượt có thể có, mặt nào nguy hiểm nhất. Bài này trả lời cả hai theo đúng cách LA-Slope tính, kèm ví dụ chuẩn để bạn tự kiểm tra lại.
1. Hệ số an toàn được định nghĩa thế nào#
Trong phương pháp cân bằng giới hạn, hệ số an toàn F (FS) là số phải chia cường độ chống cắt của đất để khối trượt vừa đúng ở trạng thái cân bằng giới hạn:
τ_huy động = (c′ + σ′·tanφ′) / F
- F = 1: đất phải huy động toàn bộ cường độ, khối trượt sắp trượt.
- F = 1,5: chỉ cần huy động 1/1,5 = 67 % cường độ.
- Cùng một F áp dụng cho mọi điểm trên mặt trượt. Đây là giả thiết cơ bản của cả nhóm phương pháp.
Hệ số an toàn yêu cầu#
| Cách kiểm tra | Điều kiện đạt | Mặc định trong LA-Slope |
|---|---|---|
| Hệ số an toàn (ASD) | F ≥ F_yêu cầu | 1,5 lâu dài; 1,3 tạm thời; 1,1 động đất |
| EN 1997-1, DA1 tổ hợp 2 / DA3 | F tính với tham số đã chia hệ số ≥ 1,0 | tanφ′/1,25; c′/1,25; c_u/1,4; tải thay đổi × 1,3 |
| EN 1997-1, DA2 | F ≥ γ_R;e = 1,1 | tham số đặc trưng |
| LRFD | hệ số sức kháng φ = 0,75 (0,65 khi mái đỡ kết cấu) |
LA-Slope báo thêm mức sử dụng = F_yêu cầu / F. Ví dụ F = 1,134 với yêu cầu 1,3 cho mức sử dụng 114,7 %, tức không đạt.
2. Vì sao phải chia lát#
Ứng suất pháp σ′ trên mặt trượt thay đổi từ điểm này sang điểm khác, nên không thể lấy cân bằng cả khối một lần. Khối trượt được chia thành các lát đứng đủ hẹp để coi đáy lát là đoạn thẳng, vật liệu và áp lực nước không đổi trên đáy.
Quy tắc chia lát trong LA-Slope:
- Mặc định 30 lát (chỉnh được 10–200).
- Thêm ranh lát tại mọi điểm đặc biệt: giao của mặt trượt với ranh lớp đất, điểm gãy mặt đất, điểm gãy mặt trượt đa giác, mép tải, giao với mực nước ngầm, điểm đặt neo, đinh, cọc. Nhờ vậy không lát nào nằm trên hai vật liệu.
- Trọng lượng lát W tích phân chính xác qua các vùng đất bị lát cắt (γ trên mực nước, γ_sat dưới mực nước).
Mỗi lát chịu: trọng lượng W, lực pháp hữu hiệu N′ và lực nước U = u·l ở đáy, lực cắt huy động S ở đáy, lực ngang E và lực đứng X giữa các lát. Với n lát, số ẩn (N′, E, X, điểm đặt của E và F) nhiều hơn số phương trình cân bằng. Mỗi phương pháp bổ sung một giả thiết về lực giữa các lát để đóng hệ.
3. Sáu phương pháp và giả thiết của từng phương pháp#
| Phương pháp | Giả thiết lực giữa lát | Cân bằng thỏa mãn | Mặt trượt |
|---|---|---|---|
| Fellenius / Petterson | Bỏ qua E và X | Mô men quanh tâm | Tròn |
| Bishop đơn giản | X = 0 (lực giữa lát nằm ngang) | Mô men + lực đứng từng lát | Tròn |
| Janbu tổng quát | Đường tác dụng của E ở 1/3 chiều cao lát | Lực + mô men từng lát | Bất kỳ |
| Spencer | X/E = tanθ không đổi | Lực + mô men | Bất kỳ |
| Morgenstern-Price | X = λ·f(x)·E | Lực + mô men | Bất kỳ |
| Sarma | Sức kháng cắt trên ranh khối | Lực + mô men | Đa giác, khối |
Fellenius#
F = Σ[c′·l + (W·cosα − U)·tanφ′] / Σ W·sinα
Đơn giản, giải trực tiếp. Bỏ qua lực giữa lát làm F thường thấp hơn 5–20 % so với các phương pháp chặt chẽ, sai nhiều khi áp lực nước lớn. Chỉ nên dùng để kiểm tra nhanh.
Bishop đơn giản#
F = Σ{[c′·b + (W − u·b)·tanφ′] / m_α} / Σ W·sinα, với m_α = cosα + sinα·tanφ′/F
F có ở cả hai vế nên phải lặp. LA-Slope bắt đầu từ F của Fellenius và dừng khi |ΔF| < 10⁻⁵. Khi m_α < 0,2 tại một lát (thường ở chân mái, đáy lát dốc ngược), phần mềm cảnh báo vì kết quả có thể không tin cậy.
Spencer và Morgenstern-Price#
Hai phương pháp thỏa mãn đồng thời cân bằng lực và cân bằng mô men, nên được ưu tiên cho hồ sơ:
- Spencer: mọi lực giữa lát nghiêng cùng một góc θ. LA-Slope giải hai ẩn (F, θ) bằng Newton, khởi đầu từ Bishop; nếu không hội tụ thì quét θ từ −45° đến 45° tìm giao điểm của hai đường F_lực(θ) và F_mômen(θ).
- Morgenstern-Price: X = λ·f(x)·E với f(x) chọn được: hằng số (trùng Spencer), nửa sin (mặc định), sin cắt, hình thang hoặc tự nhập. Phần mềm truyền lực từ lát đầu đến lát cuối theo dạng của Zhu, Lee và Jiang (2005), hội tụ ổn định hơn cách giải cổ điển.
Hai phương pháp này còn cho đường tác dụng lực (line of thrust) và biểu đồ E(x), X(x). Khi đường lực ra ngoài khối trượt hoặc E < 0 (kéo) ở đỉnh mái, LA-Slope cảnh báo: đó là dấu hiệu nên đặt khe nứt kéo ở đỉnh.
Sarma và ITF#
- Sarma: tìm hệ số gia tốc tới hạn K_c làm khối trượt cân bằng giới hạn. Hữu ích cho mái chịu động đất.
- ITF (lực đẩy dư truyền): truyền lực từ lát này sang lát kế tiếp, P_i = P_{i−1}·ψ + T_i − R_i/F. Bản hiện cho trực tiếp lực đẩy dư cần thiết để thiết kế công trình chống trượt.
4. Tìm mặt trượt nguy hiểm nhất#
F chỉ đúng cho một mặt trượt. Mặt có F nhỏ nhất mới là mặt quyết định.

Mặt trượt tròn, hai bước:
- Lưới thô: lưới tâm 10 × 10, mỗi tâm thử 10 bán kính. Các mặt được tính song song.
- Tinh chỉnh Nelder-Mead trên ba biến (x_tâm, z_tâm, R) từ 5 mặt tốt nhất của bước 1.
Mặt trượt đa giác: khởi đầu từ mặt tròn tới hạn xấp xỉ thành 10 đoạn, rồi di chuyển từng đỉnh theo phương pháp tìm kiếm mẫu với bước giảm dần, đến khi |ΔF| < 10⁻⁴. Mặt đa giác cần thiết khi có lớp yếu mỏng: mặt tròn không thể đi dọc lớp yếu nên cho F quá lạc quan.
Ràng buộc dùng được cho cả hai loại: vùng điểm vào và điểm ra trên mặt đất, chiều dày khối trượt tối thiểu (bỏ các mặt trượt nông bề mặt), điểm bắt buộc đi qua, vùng cấm cắt qua (ví dụ móng công trình).
5. Ví dụ chuẩn ACADS 1(a)#
Bộ ví dụ ACADS (Association for Computer Aided Design, Úc, 1989) là bộ bài toán chuẩn để kiểm tra phần mềm ổn định mái dốc. Ví dụ 1(a): mái đồng nhất, không có nước.
| Số liệu | Giá trị |
|---|---|
| Mặt đất | (20; 25) → (30; 25) → mái nghiêng 1:2 → (50; 35) → (70; 35), đơn vị m |
| Chiều cao mái | 10 m, mái 1:2 (26,6°) |
| Đất | c′ = 3 kPa, φ′ = 19,6°, γ = 20 kN/m³ |
| Nước, tải | không có |
Kết quả LA-Slope (ví dụ VD1_ACADS_EX1a có sẵn trong bộ cài):
| Phân tích | Phương pháp | F |
|---|---|---|
| Mặt tròn tối ưu | Bishop | 0,985 |
| Mặt tròn tối ưu | Spencer | 0,984 |
| Mặt đa giác tối ưu | Morgenstern-Price | 0,977 |
Đáp án tham chiếu của bộ ACADS cho ví dụ này xấp xỉ 1,00. Ba phương pháp chặt chẽ cho kết quả chênh nhau dưới 1 %, và mặt đa giác cho F thấp hơn mặt tròn một chút, đúng như lý thuyết (mặt đa giác có nhiều bậc tự do hơn).
6. Nước trên mặt trượt#
Áp lực nước u ở đáy lát làm giảm trực tiếp N′ và do đó giảm sức kháng ma sát. LA-Slope có các cách khai báo:
| Cách khai báo | Khi nào dùng |
|---|---|
| Mực nước ngầm (thủy tĩnh) | Trường hợp thông thường |
| Hệ số áp lực nước r_u = u/(γ·h) | Đánh giá sơ bộ, đê đập theo tài liệu cũ |
| Đường đẳng áp | Có số liệu quan trắc piezometer |
| Khe nứt kéo có nước | Đỉnh mái đất dính; chiều sâu z_t = 2c/(γ√K_a), lực ngang ½·γ_w·z_w² |
| Từ phân tích thấm | Mực nước thay đổi theo thời gian, đê đập, mưa: xem bài (2) |
7. Tóm tắt#
- F là hệ số chia cường độ chống cắt, giống nhau tại mọi điểm trên mặt trượt.
- Phương pháp chia lát khác nhau ở giả thiết lực giữa lát. Dùng Spencer hoặc Morgenstern-Price cho hồ sơ, Bishop cho mặt tròn, Fellenius chỉ để kiểm tra nhanh.
- Luôn chạy cả mặt đa giác khi có lớp yếu, và kiểm tra mặt tới hạn không chạm biên vùng tìm kiếm.
- Kết quả trên ví dụ chuẩn ACADS 1(a): 0,977–0,985 so với tham chiếu xấp xỉ 1,00.