Tool Xây Dựng VNTOOL XÂY DỰNG VN
Bài viết kỹ thuậtCập nhật 3/11/2026 · 4 phút đọc

LA-Slope (8): Mái dốc khi động đất – phương pháp giả tĩnh, hệ số k_h, k_v và gia tốc tới hạn

Cách lấy hệ số động đất ngang và đứng cho mái dốc theo TCVN 9386 / EN 1998-5, ảnh hưởng của chiều k_v, và cách tìm hệ số gia tốc tới hạn K_c. Ví dụ mái đào 8 m: F giảm từ 1,16 xuống 1,01 với k_h = 0,086, K_c ≈ 0,10.

Các bài trong Module Địa kỹ thuật
Mục lục bài viết

Phân tích ổn định mái dốc khi động đất trong thực hành thiết kế thường dùng phương pháp giả tĩnh: tác dụng động đất được thay bằng lực quán tính tĩnh tỉ lệ với trọng lượng khối trượt. Bài này giải thích cách lấy hệ số, cách LA-Slope đưa lực vào cân bằng và cách đọc kết quả.

1. Lực giả tĩnh#

Mỗi lát chịu thêm hai lực tại trọng tâm:

  • Lực ngang F_h = k_h·W, luôn hướng ra phía mái (cùng chiều trượt), là chiều bất lợi.
  • Lực đứng F_v = k_v·W, có thể hướng lên hoặc xuống; phải kiểm tra cả hai chiều.

Trong LA-Slope, k_v dương là hướng xuống. Lực ngang tham gia cả cân bằng lực lẫn cân bằng mô men (mô men quanh tâm cung tròn với cánh tay đòn theo cao độ trọng tâm lát).

2. Lấy hệ số theo TCVN 9386 / EN 1998-5#

Với mái dốc, EN 1998-5 (mục 4.1.3.3, TCVN 9386 tương đương) cho:

k_h = 0,5·α·S; k_v = ±0,5·k_h (khi a_vg/a_g > 0,6) hoặc ±0,33·k_h (trường hợp khác)

trong đó α = a_g/g với a_g = γ_I·a_gR (gia tốc nền thiết kế, a_gR tra theo địa danh, γ_I hệ số tầm quan trọng), S là hệ số nền theo loại đất nền. Với mái cao hơn khoảng 30 m và dốc hơn 15°, nhân thêm hệ số khuếch đại địa hình S_T theo Phụ lục A của EN 1998-5.

BướcGiá trị ví dụ
a_g = γ_I·a_gR0,15g (giả định minh họa)
Loại nền, hệ số S1,15
k_h = 0,5 × 0,15 × 1,150,086
k_v = 0,5 × k_h±0,043

Hệ số 0,5 trong k_h phản ánh việc khối trượt không chịu gia tốc đỉnh một cách đồng thời trên toàn khối và mái dốc chấp nhận chuyển vị nhỏ. Với mái có kết cấu quan trọng phía trên hoặc đất có nguy cơ mất cường độ khi rung (cát bão hòa rời, sét nhạy), phương pháp giả tĩnh không đủ.

3. Ví dụ: mái đào hai lớp#

Mái đào cao 8 m, mái 1:1, sét pha dẻo cứng (c′ = 15 kPa, φ′ = 18°) trên cát pha chặt vừa (c′ = 4 kPa, φ′ = 28°), có mực nước ngầm. Tình huống thiết kế Động đất, F yêu cầu mặc định 1,1. Bishop, mặt tròn tối ưu lại cho từng trường hợp.

Trường hợpk_hk_vF
Tĩnh001,162
Động đất, k_v hướng xuống0,086+0,0431,008
Động đất, k_v hướng lên0,086−0,0431,022
Động đất mạnh hơn0,15+0,0750,915

Với k_h = 0,086, F giảm 13 % và không đạt yêu cầu 1,1. Ở ví dụ này k_v hướng xuống bất lợi hơn một chút: trọng lượng tăng làm tăng cả lực gây trượt lẫn ma sát, nhưng lực gây trượt tăng nhiều hơn vì đất lớp trên có lực dính đáng kể (phần sức kháng do c′ không tăng theo trọng lượng).

4. Hệ số gia tốc tới hạn K_c#

K_c là hệ số k_h làm F = 1 (với k_v = 0). Đây là "khả năng chịu động đất" của mái: nếu gia tốc vượt K_c·g, khối trượt bắt đầu dịch chuyển.

Tìm K_c bằng cách tăng dần k_h đến khi F = 1 (chia đôi khoảng):

k_hF (Bishop)F (Morgenstern-Price)
0,051,0771,080
0,100,9931,015
0,120,9630,984

K_c ≈ 0,096 theo Bishop và khoảng 0,11 theo Morgenstern-Price. Phương pháp Sarma trong LA-Slope được xây dựng đúng cho bài toán này: nó tìm trực tiếp hệ số gia tốc làm khối trượt cân bằng giới hạn.

Mái đào hai lớp với k_h = K_c = 0,096 (k_v = 0): mặt trượt tới hạn theo Bishop có F = 1,000 – trạng thái cân bằng giới hạn dưới động đất (xuất từ LA-Slope)
Mái đào hai lớp với k_h = K_c = 0,096 (k_v = 0): mặt trượt tới hạn theo Bishop có F = 1,000 – trạng thái cân bằng giới hạn dưới động đất (xuất từ LA-Slope)

Dùng K_c để đánh giá chuyển vị#

Khi k_h thiết kế lớn hơn K_c, phương pháp giả tĩnh cho F < 1 nhưng không có nghĩa mái chắc chắn sụp. Theo cách tiếp cận khối trượt Newmark, khối đất chỉ dịch chuyển trong những khoảng thời gian ngắn gia tốc vượt K_c·g; tổng chuyển vị tích lũy phụ thuộc K_c / k_max và đặc trưng bản ghi gia tốc. Với mái quan trọng, nên đánh giá chuyển vị theo cách này thay vì chỉ so F với 1,1.

5. Lưu ý khi dùng#

  • Mặt trượt tới hạn thay đổi khi có động đất (thường sâu và dài hơn). Luôn bật tối ưu lại, không dùng lại mặt trượt của trường hợp tĩnh.
  • Tham số đất: tình huống động đất dùng hệ số riêng vật liệu bằng 1,0 (EN 1997) hoặc F yêu cầu thấp hơn (mặc định 1,1).
  • Đất bão hòa rời: kiểm tra hóa lỏng trước. Nếu có nguy cơ hóa lỏng, cường độ sau rung phải giảm, phương pháp giả tĩnh với c′, φ′ ban đầu không an toàn.
  • Áp lực nước: giữ nguyên trường áp lực nước tĩnh; phương pháp giả tĩnh không tính áp lực nước dư do rung.

Đọc thêm

Bài viết kỹ thuậtLA-Slope (1): Phương pháp cân bằng giới hạn chia lát và ví dụ chuẩn ACADSHệ số an toàn mái dốc được định nghĩa thế nào, vì sao phải chia lát, sáu phương pháp Fellenius, Bishop, Janbu, Spencer, Morgenstern-Price, Sarma khác nhau ở giả thiết nào, LA-Slope tìm mặt trượt nguy hiểm ra sao, và kết quả trên ví dụ chuẩn ACADS 1(a).Bài viết kỹ thuậtLA-Slope (2): Thấm không ổn định và bài toán hạ mực nước hồKhi mực nước hồ hạ nhanh, nước trong thân đê chưa kịp thoát nên mái thượng lưu mất ổn định sau vài ngày chứ không phải ngay lập tức. Bài này giải thích phương trình thấm Richards, vùng không bão hòa van Genuchten, cách LA-Slope ghép thấm với ổn định, và ví dụ đê đất có hệ số an toàn giảm từ 2,15 xuống 1,13.Bài viết kỹ thuậtLA-Slope (3): Gia cố mái dốc (đinh, cọc chống trượt, tường MSE), mái đá và phần tử hữu hạnNăm ví dụ có số liệu cụ thể: mái đào gia cố đinh, cọc chống trượt D1200, tường đất có cốt lưới địa kỹ thuật, mái đá trượt phẳng và nêm 3D, và kiểm tra bằng phần tử hữu hạn giảm cường độ. Mỗi ví dụ chỉ ra một bài học thiết kế.Bài viết kỹ thuậtLA-Slope (4): Chọn phương pháp nào – so sánh 6 phương pháp trên cùng một mặt trượtChạy Fellenius, Bishop, Janbu, Spencer, Morgenstern-Price và Sarma trên cùng một mặt trượt cho ba trường hợp: mái khô, mái có áp lực nước lớn, mái hai lớp có mực nước ngầm. Kết quả cho thấy khi nào chênh lệch nhỏ, khi nào Fellenius thấp hơn hơn 10 %, và vì sao không nên so phương pháp trên các mặt trượt tối ưu khác nhau.